Sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước – sự khời đầu cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam

Nguyễn Thị Vân

Bộ môn LSĐ – TTHCM – Khoa KHCB&ƯD

 

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc đầu năm 1941 là một mốc đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển căn bản từ giai đoạn tìm đường, chuẩn bị lực lượng sang giai đoạn trực tiếp lãnh đạo cách mạng trong nước. Việc Người lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi đặt cơ sở hoạt động đầu tiên không chỉ mang ý nghĩa mở đầu về không gian và thời gian, mà còn thể hiện một quyết định chỉ đạo chiến lược có tính chất nền tảng, chi phối toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1941 đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ góc độ nghiên cứu lịch sử cách mạng, có thể thấy rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là kết quả của những biến động ngẫu nhiên, cũng không đơn thuần là sự “chớp thời cơ” mang tính tình thế, mà là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị lâu dài, có chủ đích và được dẫn dắt bởi tư duy chiến lược đúng đắn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong quá trình đó, Pác Bó – Cao Bằng giữ vai trò như điểm xuất phát, nơi hội tụ và triển khai những quyết sách mang tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc nhìn logic lịch sử của quyết định chỉ đạo chiến lược, tập trung phân tích mối liên hệ nội tại giữa việc Nguyễn Ái Quốc trở về nước, lựa chọn Pác Bó làm căn cứ địa cách mạng với quá trình hình thành đường lối giải phóng dân tộc, làm tiền đề xây dựng lực lượng và tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn bền vững của quyết định chiến lược này đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Nguyễn Ái Quốc, Pác Pó, Cao Bằng, chiến lược, thắng lợi vĩ đại.

1. Pác Bó (Cao Bằng) – sự lựa chọn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

Cuối những năm 1930, tình hình thế giới và trong nước có những biến động sâu sắc. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ làm suy yếu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Ở Đông Dương, sự xâm nhập của phát xít Nhật từ ngày 22/09/1940 và từng bước mở rộng hiện diện quân sự khắp Đông Dương đã làm thay đổi căn bản cục diện chính trị – xã hội, khiến mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt và nổi bật.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu khách quan đặt ra đối với cách mạng Việt Nam là phải chuyển hướng chiến lược kịp thời, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc giành chính quyền khi thời cơ đến. Tuy nhiên, sự chuyển hướng ấy đòi hỏi không chỉ có nhận thức lý luận đúng đắn, mà còn cần sự chỉ đạo trực tiếp, linh hoạt, sát thực tiễn. Sự trở về của Nguyễn Ái Quốc vào ngày ngày 28/01/1941vì thế mang ý nghĩa đáp ứng một đòi hỏi mang tính tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi đặt chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc không phải là một quyết định mang tính tình thế, mà là kết quả của quá trình nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng về phong trào cách mạng trong nước, đặc biệt là các địa bàn chiến lược ở vùng biên giới phía Bắc. Cao Bằng nổi lên như một địa bàn hội tụ nhiều điều kiện đặc biệt thuận lợi cho việc triển khai chiến lược cách mạng. Trước khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã theo dõi sát sao tình hình xây dựng cơ sở Đảng, phong trào quần chúng và điều kiện địa – chính trị của Cao Bằng, coi đây là địa bàn có khả năng trở thành căn cứ địa cách mạng lâu dài với những lợi thế sau đây:

Thứ nhất, Cao Bằng có vị trí địa – chính trị đặc biệt. Nguyễn Ái Quốc từng nhấn mạnh yêu cầu phải có con đường liên lạc quốc tế thông suốt để phục vụ cách mạng trong nước. Trong bài viết “Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc” đăng trên tạp chí Cứu vong nhật báo ngày 2/12/1940, khi bàn về cơ hội để Việt Nam giành độc lập, Người khẳng định: “Muốn lợi dụng cơ hội này, phải liên kết với Trung Quốc trong cùng một mặt trận”[1]. Với vị trí địa – chính trị thuận lợi, là tỉnh biên giới giáp Trung Quốc với đường biên dài hơn 333km, vừa có đường bộ, vừa có đường thủy sang Trung Quốc thuận lợi cho việc liên lạc quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Chính yếu tố này khiến Cao Bằng trở thành “cửa ngõ” chiến lược cho sự kết nối giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.

Thứ hai, địa hình rừng núi hiểm trở của Cao Bằng là điều kiện tự nhiên lý tưởng để xây dựng căn cứ địa lâu dài. Khu vực Pác Bó – Lũng Lạn – Khuổi Nậm có hệ thống hang động, núi đá, rừng rậm liên hoàn, “tiến có thể hoạt động, lui có thể giữ vững lực lượng”, rất phù hợp cho việc xây dựng căn cứ cách mạng trong điều kiện bị kẻ thù khủng bố gắt gao. Đồng thời, Cao Bằng cũng có các tuyến đường bộ xuống Lạng Sơn, Thái Nguyên là địa bàn thực dân khó kiểm soát, có thể rút lui, bảo toàn lực lượng khi cần thiết [2]. Đây là yếu tố mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng khi lựa chọn địa bàn hoạt động.

Thứ ba, đây là nơi có cơ sở cách mạng được xây dựng sớm, phong trào quần chúng phát triển tương đối vững chắc. Yếu tố quan trọng góp phần đi đến quyết định lựa chọn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước”, là nơi sinh sống của hàng chục đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh Lô Lô, Hoa... từ xưa đến nay vẫn luôn đoàn kết gắn bó với nhau... một lòng theo Đảng. Trước năm 1941, nhiều xã ở Hà Quảng, Hòa An đã có cơ sở Việt Minh, quần chúng được giác ngộ, sẵn sàng che chở và bảo vệ cán bộ cách mạng, nhiều cán bộ cốt cán đã hăng hái tham gia hoạt động cách mạng từ trước đó[1]. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho việc duy trì, phát triển phong trào cách mạng, Cao Bằng còn có “hàng rào quần chúng bảo vệ” vững chắc với sự thành lập các tổ chức như “Cộng sản đoàn”, “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ”, “Hội bản”, “Hội làng” từ năm 1935 đã tập hợp, vận động được đông đảo quần chúng tham gia các cuộc đấu tranh cách mạng [3]. Đây là điều kiện xã hội – chính trị đặc biệt quan trọng để Nguyễn Ái Quốc có thể trực tiếp hoạt động, chỉ đạo phong trào ngay khi về nước.

Có thể khẳng định, Cao Bằng nổi lên như một địa bàn hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi: Có cơ sở cách mạng sớm, phong trào quần chúng tương đối vững chắc; Có vị trí địa – chính trị đặc biệt, thuận lợi cho liên lạc quốc tế; Có địa hình rừng núi hiểm trở, phù hợp xây dựng căn cứ địa lâu dài. Lựa chọn Pác Bó không phải là nơi “trú ẩn” mang tính phòng thủ, mà là trung tâm chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn chuẩn bị quyết định, thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chính từ Pác Bó, Người đã đặt nền móng cho việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng căn cứ địa Việt Bắc và tiến tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

2. Từ Pác Bó đến Hội nghị Trung ương 8 (5/1941): quá trình hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc

Sau khi trở về nước đầu năm 1941 và lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng triển khai một quá trình chuẩn bị toàn diện về tư tưởng, tổ chức và cán bộ, tạo tiền đề trực tiếp cho Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941). Hội nghị này đánh dấu sự hoàn chỉnh về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, xác định rõ nhiệm vụ trung tâm là đánh đuổi đế quốc, giành độc lập cho dân tộc. Có thể khẳng định rằng, Pác Bó không chỉ là nơi khởi đầu hoạt động lãnh đạo trong nước của Nguyễn Ái Quốc, mà còn là không gian chuẩn bị chiến lược cho việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng.

Trên phương diện tư tưởng, từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung làm rõ và thống nhất nhận thức về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Người chỉ rõ: trong điều kiện chiến tranh thế giới đang diễn ra, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy [4]. Luận điểm này trở thành hạt nhân tư tưởng xuyên suốt Hội nghị Trung ương 8, đánh dấu sự chuyển hướng chiến lược dứt khoát của Đảng sang nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Về tổ chức, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị nội dung, chương trình và nhân sự cho Hội nghị Trung ương 8. Trước khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã dừng chân tại hai làng Nặm Quang và Ngàm Tảy (Tĩnh Tây, Trung Quốc) để mở lớp huấn luyện đào tạo cấp tốc cho 41 thanh niên Cao Bằng để bồi dưỡng, giúp họ nắm được tình hình nhiệm vụ cách mạng. Người nhận định: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về nước, mở rộng phong trào ở Cao Bằng và tổ chức đường dây liên lạc về nước”[5].

Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ phong trào cách mạng của tỉnh Cao Bằng, thực hiện chương trình thí điểm Việt Minh, tổ chức các Hội cứu quốc tại ba châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Người liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cho đông đảo cán bộ cách mạng tại Pác Pó, trực tiếp làm giảng viên huấn luyện và cách thức tổ chức cho các Hội cứu quốc. Nhờ đó, phong trào Việt Minh đã thâm nhập vào các thôn xóm bản làng, bám rễ và lớn mạnh không ngừng trong nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Chỉ trong 3 tháng, từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1941, phong trào Việt Minh đã thu hút tới 2.000 hội viên trong các tổ chức cứu quốc tham gia [6], thực sự trở thành một phong trào quần chúng sâu rộng và mạnh mẽ.

Sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng trong nước và kinh nghiệm quốc tế, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại lán Khuối Nặm – Pác Bó từ ngày 10-19/5/1941. Nhiều văn kiện quan trọng phục vụ Hội nghị đã được Người soạn thảo hoặc chuẩn bị ngay tại Pác Bó. Hội nghị lần này đã phát triển nhận định của hai Hội nghị trung ương trước thành những dự đoán cụ thể, chính xác: “Liên Xô thắng trận, quân Tàu phản công... Tất cả các điều kiện ấy sẽ giúp cho các cuộc vận động của Đảng ta mau phát triển và rồi đây lực lượng sẽ lan rộng toàn quốc để gây một cuộc khởi nghĩa toàn quốc rộng lớn” [7]. Hội nghị xác định rõ nhiệm vụ trung tâm, trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, điều chỉnh chính sách giai cấp để tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước. Đây là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy chiến lược sắc bén của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị đã nhất trí thông qua nhiều văn kiện quan trọng, bao gồm: Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Đông Dương, Chương trình Việt Minh, Điều lệ Việt Nam Nông dân cứu quốc, Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc; Lời kêu gọi nhân dân bản xứ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhìn một cách tổng thể, Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã phát triển, hoàn chỉnh những chủ trương được đề ra ở hai hội nghị trước (Hội nghị Trung ương lần thứ 7 tháng 11/1939 và Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 11/1940). Nghị quyết được Hội nghị thông qua đã phát triển sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản ở một số nước thuộc địa, có thể thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc như ở nước ta; đồng thời có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Thành công của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 có sự đóng góp tích cực, quan trọng của Đảng bộ và quần chúng cách mạng tỉnh Cao Bằng cả về vật chất và tinh thần cho Hội nghị. Trong thời gian ở Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc không chỉ khảo sát địa hình và xây dựng cơ sở cách mạng, mà còn trực tiếp đào tạo cán bộ, viết tài liệu, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho phong trào cách mạng cả nước. Nhiều tài liệu quan trọng, bài giảng huấn luyện cán bộ, nội dung chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) đã được Người soạn thảo ngay tại Pác Bó. Với vai trò là một căn cứ địa cách mạng, Pác Pó Cao Bằng là địa bàn tổ chức Hội nghị, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, đảm bảo tuyệt đối bí mật địa điểm Hội nghị, bảo vệ, đưa đón các lãnh tụ của Đảng tham dự Hội nghị, các lãnh đạo ở Trung ương từ các địa phương khác đến dự Hội nghị.

Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) ra đời sau Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 5-1941) tại Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo là biểu hiện sinh động của tư duy mang tầm chiến lược, trở thành hình thức tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhất trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Từ Pác Bó, Việt Minh nhanh chóng trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng trong cả nước, biến đường lối giải phóng dân tộc từ chủ trương của Đảng thành phong trào hành động rộng lớn của quần chúng nhân dân.

Như vậy, từ Pác Bó đến Hội nghị Trung ương 8 là một chuỗi phát triển logic, liên tục và tất yếu: Từ quá trình chuẩn bị tư tưởng và tổ chức → thống nhất nhận thức → hoàn chỉnh đường lối → tổ chức lực lượng thực hiện. Chính chuỗi logic đó đã đặt nền móng quyết định cho việc xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, chuẩn bị tổng khởi nghĩa và dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

3. Xây dựng căn cứ địa Việt Bắc – hiện thực hóa quyết định chiến lược

Từ Cao Bằng, phong trào Việt Minh lan rộng ra các tỉnh Việt Bắc. Việc xây dựng căn cứ địa không diễn ra một cách tự phát, mà theo một kế hoạch chiến lược có tính hệ thống: xây dựng lực lượng chính trị, phát triển lực lượng vũ trang, mở rộng căn cứ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Quyết định xây dựng căn cứ địa Việt Bắc không phải là một bước đi tình thế, mà là sự hiện thực hóa mang tính logic, có tính tất yếu của quyết định chiến lược ban đầu khi Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi về nước năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ yêu cầu phải xây dựng một căn cứ địa vững chắc làm chỗ dựa cho phong trào cách mạng lâu dài. Người chỉ rõ: “Muốn làm cách mệnh, trước hết phải có căn cứ địa”. Nhận thức đó là cơ sở lý luận và thực tiễn để từ Cao Bằng, phong trào Việt Minh từng bước lan rộng ra các tỉnh Việt Bắc, hình thành một không gian chiến lược liên hoàn.

Quá trình xây dựng căn cứ địa Việt Bắc diễn ra theo một kế hoạch chiến lược có tính hệ thống, chứ không phải là sự phát triển tự phát, khẳng định nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn này là “xây dựng và củng cố căn cứ địa cách mạng, phát triển lực lượng chính trị của quần chúng, chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang khi thời cơ đến”. Trên tinh thần đó, từ Cao Bằng, các tổ chức Việt Minh được mở rộng sang Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên…, từng bước hình thành khu căn cứ Việt Bắc tương đối hoàn chỉnh cả về chính trị, quân sự và tổ chức.

Trong tiến trình ấy, xây dựng lực lượng chính trị trong quần chúng nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mệnh là việc chung của dân chúng, chứ không phải việc của một hai người”[8]. Vì vậy, các tổ chức Việt Minh được xây dựng rộng khắp, gắn mục tiêu độc lập dân tộc với lợi ích thiết thân của nhân dân, tạo nên cơ sở xã hội vững chắc cho căn cứ địa. Song song với đó là quá trình xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, đúng như chỉ dẫn của Người: “Phải có lực lượng vũ trang thì mới bảo vệ được phong trào và tiến lên giành chính quyền [9].

Toàn bộ quá trình đó cho thấy tính logic nội tại nhất quán của quyết định ban đầu:
chọn đúng địa bàn chiến lược (Cao Bằng) → xây dựng đúng mô hình căn cứ địa (Việt Bắc) → chuẩn bị đầy đủ, toàn diện các điều kiện cho tổng khởi nghĩa. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh yêu cầu phải “chuẩn bị kỹ lưỡng, không được hấp tấp, nhưng khi thời cơ đến thì phải kiên quyết hành động”[10]. Chính từ căn cứ địa Việt Bắc – được khởi nguồn từ Pác Bó – Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là kết quả của sự bột phát ngẫu nhiên, càng không phải là sản phẩm của may mắn lịch sử, mà là kết quả tất yếu của một quá trình chuẩn bị chiến lược lâu dài, kiên trì, khoa học, đồng thời là sự kết hợp nhạy bén, chính xác giữa chuẩn bị lực lượng và nắm bắt thời cơ cách mạng. Tiến trình ấy được khởi nguồn từ quyết định chiến lược của Nguyễn Ái Quốc khi trở về nước năm 1941 và lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm điểm xuất phát cho việc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Từ Pác Bó, Trung ương Đảng và Nguyễn Ái Quốc đã từng bước xây dựng nền tảng chính trị, tổ chức và lực lượng cho cách mạng Việt Nam. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh, củng cố hệ thống tổ chức của Đảng, giác ngộ và tổ chức quần chúng nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng đã tạo nên thế và lực mới cho phong trào cách mạng trong cả nước. Căn cứ địa Việt Bắc – với hạt nhân ban đầu là Cao Bằng – không chỉ là nơi bảo toàn và phát triển lực lượng, mà còn trở thành trung tâm chỉ đạo chiến lược của cách mạng Việt Nam, nơi hội tụ đầy đủ các điều kiện chính trị, quân sự và quần chúng cho một cuộc tổng khởi nghĩa.

Quá trình chuẩn bị đó thể hiện rõ tư duy chiến lược nhất quán của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương: không nóng vội phát động khởi nghĩa khi điều kiện chưa chín muồi, nhưng cũng không bỏ lỡ thời cơ lịch sử khi nó xuất hiện. Khi Nhật đảo chính Pháp (tháng 3-1945), làm tan rã bộ máy thống trị của chủ nghĩa thực dân, tình thế cách mạng chuyển biến nhanh chóng theo hướng có lợi. Nhờ đã có sự chuẩn bị toàn diện từ trước, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời nhận diện đúng thời cơ, đề ra những quyết sách mang tính quyết định, phát động Tổng khởi nghĩa trong phạm vi cả nước.

Từ căn cứ địa Việt Bắc, mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa được truyền đi nhanh chóng, thống nhất, tạo nên sự đồng loạt vùng dậy của quần chúng nhân dân trên cả nước. Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa chuẩn bị chiến lược lâu dài và nắm bắt thời cơ chính xác đã giúp Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi nhanh chóng, triệt để, với ít tổn thất, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Có thể khẳng định rằng, từ Pác Bó năm 1941 đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một chuỗi logic lịch sử tất yếu, trong đó mỗi quyết định chiến lược đều là một mắt xích không thể tách rời. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám vì thế là minh chứng sinh động cho giá trị bền vững của tư duy chiến lược Hồ Chí Minh: chuẩn bị kỹ lưỡng, kiên trì, đồng thời hành động kịp thời, quyết đoán khi thời cơ chín muồi.

4. Giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện nay

Quyết định chiến lược của Nguyễn Ái Quốc khi về nước và lựa chọn Pác Bó để lãnh đạo cách mạng để lại nhiều bài học có giá trị bền vững:

* Bài học về tư duy chiến lược gắn với thực tiễn cụ thể:

Quyết định của Nguyễn Ái Quốc trở về nước đầu năm 1941 và lựa chọn Pác Bó (Cao Bằng) làm nơi trực tiếp lãnh đạo cách mạng là biểu hiện tập trung của tư duy chiến lược cách mạng gắn chặt với thực tiễn lịch sử – xã hội cụ thể của Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng kết sâu sắc thực tiễn trong nước, kết hợp với việc phân tích bối cảnh quốc tế trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải xuất phát từ thực tiễn dân tộc để xác định đường lối cách mạng. Người khẳng định: “Muốn làm cách mệnh thành công thì phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình” [11]. Khi về nước năm 1941, Người nhận thấy mâu thuẫn cơ bản và gay gắt nhất của xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc, phát xít; do đó, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân tộc, đặt độc lập lên trên hết.

Việc lựa chọn Pác Bó thể hiện rõ tư duy chiến lược linh hoạt, sáng tạo, không giáo điều. Cao Bằng là địa bàn có phong trào quần chúng phát triển sớm, đồng bào các dân tộc giàu truyền thống yêu nước, có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và đối ngoại. Chính Người đã đánh giá Cao Bằng là nơi “có thể làm căn cứ đầu tiên để xây dựng phong trào cách mạng trong cả nước”. Đây là sự lựa chọn có tính toán kỹ lưỡng, phù hợp với yêu cầu bảo toàn lực lượng và phát triển cách mạng trong điều kiện bị đàn áp khốc liệt.

Từ thực tiễn đó, bài học rút ra là: tư duy chiến lược đúng đắn phải luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Sự thành công của quyết định về Pác Bó đã khẳng định giá trị khoa học và thực tiễn lâu dài của phương pháp tư duy Hồ Chí Minh.

* Bài học về phát huy vai trò của quần chúng nhân dân 

Một nội dung xuyên suốt trong quyết định chiến lược của Nguyễn Ái Quốc là niềm tin sâu sắc vào vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với thắng lợi của cách mạng. Ngay từ khi về nước, Người đã trực tiếp sống, làm việc và tổ chức phong trào trong quần chúng, coi đây là nền tảng vững chắc nhất của cách mạng. Người khẳng định rõ: “Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người”. Từ Pác Bó, tư tưởng ấy được cụ thể hóa bằng việc thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) vào tháng 5-1941, là bước phát triển mới trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi lực lượng yêu nước nhằm mục tiêu tối cao là độc lập dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng giác ngộ, tổ chức và phát huy tính chủ động của quần chúng. Các hình thức tuyên truyền được tiến hành linh hoạt, dễ hiểu, gắn mục tiêu độc lập dân tộc với quyền lợi thiết thân của nhân dân. Người luôn nhấn mạnh phải “nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, hướng dẫn dân làm”. Nhờ đó, phong trào cách mạng từ Pác Bó nhanh chóng lan rộng, quần chúng nhân dân không chỉ tham gia mà còn trở thành chủ thể sáng tạo của cách mạng.

Bài học rút ra là: phát huy vai trò quần chúng phải dựa trên niềm tin vào nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu và xây dựng phương pháp tổ chức khoa học. Đây chính là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam từ Pác Bó đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.

* Bài học về chuẩn bị lực lượng và nắm bắt thời cơ cách mạng

Quyết định về nước năm 1941 còn để lại bài học đặc biệt sâu sắc về chuẩn bị lực lượng cách mạng một cách toàn diện và chủ động nắm bắt thời cơ lịch sử. Nguyễn Ái Quốc không chủ trương hành động nóng vội, mà kiên trì xây dựng nền móng vững chắc cho cuộc tổng khởi nghĩa sau này. Từ Pác Bó, công tác xây dựng Đảng được củng cố, hệ thống cán bộ được đào tạo, rèn luyện thông qua thực tiễn. Song song với đó là việc xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát triển lực lượng chính trị rộng khắp trong quần chúng. Người nhấn mạnh: “Trước hết phải có lực lượng, có tổ chức thì mới nói đến khởi nghĩa” [12].

Bên cạnh lực lượng chính trị, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Việc hình thành căn cứ Cao Bằng – Bắc Sơn – Võ Nhai không chỉ có ý nghĩa quân sự mà còn là chỗ dựa chính trị cho quần chúng. Tư tưởng kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang được hình thành rõ nét, tạo thế và lực cho cách mạng.

Bài học quan trọng nhất là khả năng nhạy bén nắm bắt và chớp thời cơ cách mạng. Nhờ quá trình chuẩn bị lâu dài từ Pác Bó (1941), khi Nhật đảo chính Pháp (3-1945) và tình thế cách mạng xuất hiện, Đảng ta đã kịp thời lãnh đạo nhân dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước. Điều này khẳng định: thời cơ chỉ có thể phát huy tác dụng khi đã có sự chuẩn bị chiến lược chu đáo.

Những bài học rút ra từ quyết định chiến lược của Nguyễn Ái Quốc năm 1941 tiếp tục giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay [13]. Trước hết, bài học về tư duy chiến lược gắn với thực tiễn đặt ra yêu cầu phải xây dựng đường lối, chính sách phát triển đất nước trên cơ sở bám sát điều kiện cụ thể của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh chiến lược và biến động toàn cầu. Mọi quyết sách phải xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc, tránh giáo điều, sao chép mô hình không phù hợp. Thứ hai, bài học về phát huy vai trò quần chúng nhân dân tiếp tục khẳng định nhân dân là trung tâm của công cuộc đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh đều phải dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ và sức sáng tạo của nhân dân. Thứ ba, bài học về chuẩn bị lực lượng và nắm bắt thời cơ có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Việt Nam chỉ có thể tận dụng tốt thời cơ nếu chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực, thể chế, tiềm lực khoa học – công nghệ và sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Có thể khẳng định, từ Pác Bó năm 1941 đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, tư duy chiến lược Hồ Chí Minh vẫn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, mang giá trị bền vững đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam.

 

KẾT LUẬN

Từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một quá trình phát triển lịch sử có tính logic chặt chẽ, phản ánh rõ nét tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Quyết định trở về nước và lựa chọn Pác Bó làm căn cứ địa cách mạng không chỉ mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam, mà còn đặt nền móng cho thắng lợi vĩ đại của dân tộc năm 1945. Nghiên cứu logic lịch sử của quyết định chỉ đạo chiến lược này cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là kết tinh của một quá trình chuẩn bị có chủ đích, lâu dài và khoa học. Điều đó tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời gợi mở nhiều giá trị lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1], [4], [8], [9], [10], [12], Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr. 215, 230..

[12], Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011.

[2], [3] [6]  Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cao Bằng, tr.26, tr.27, tr.38

[5] Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.32

[7] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, tr.131.

[13]Phạm Hồng Tung (chủ biên) (2015), Cách mạng Tháng Tám 1945 – Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 


[1] Tiêu biểu là anh hùng liệt sĩ Hoàng Đình Giong – người cộng sản trung kiên, người học trò xuất sắc của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Năm 1928, Hoàng Đình Giong được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, năm 1929 được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và giữ chức vụ Bí thư Chi bộ hải ngoại ở Long Châu (Trung Quốc) – chi bộ trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Cao Bằng, Lạng Sơn và các tỉnh Đông Bắc Việt Nam.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn