NCS. ThS. Nguyễn Nam Hưng
Khoa Khoa học Cơ bản và Ứng dụng
Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò quyết định đối với những thành tựu mang tính lịch sử. Một trong những bước ngoặt lớn mang tính đột phá là việc thừa nhận, khuyến khích và tôn vinh tầng lớp doanh nhân, xem kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của một số nhà nghiên cứu có xu hướng tiếp cận lý luận một cách giáo điều, máy móc, việc một quốc gia kiên định mục tiêu Xã hội Chủ nghĩa lại đi tôn vinh tầng lớp nắm giữ tư bản và thuê mướn lao động bị coi là một sự “mâu thuẫn”, thậm chí là “đi ngược lại” lý thuyết gốc của C. Mác về đấu tranh giai cấp và xóa bỏ tư hữu. Bài viết này nhằm phân tích sâu sắc bản chất vấn đề dưới góc độ duy vật biện chứng, đặc biệt đi sâu vào sự khác biệt bản chất mang tính hệ thống giữa giai cấp tư sản cổ điển và đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày nay, từ đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo và nhất quán của Đảng ta với tinh thần cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin.
1. Vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong nhãn quan của C. Mác
Để đánh giá một cách khách quan, trước hết cần giải phóng tư duy khỏi sự hiểu lầm rằng chủ nghĩa Mác chỉ có sự phủ định sạch trơn đối với giai cấp tư sản. Trái lại, trong các tác phẩm kinh điển, C. Mác và Ph. Ăngghen luôn nhìn nhận sự xuất hiện và phát triển của giai cấp tư sản như một nấc thang tiến hóa tất yếu và có tính cách mạng mạnh mẽ trong lịch sử nhân loại. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), các ông đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [1, tr. 547].
Theo quy luật của duy vật lịch sử, một hình thái kinh tế - xã hội mới chỉ có thể ra đời và đứng vững khi nó dựa trên một lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ rất cao. Đối với một quốc gia quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội từ một xuất phát điểm thấp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như Việt Nam, việc “thiếu hụt” một lực lượng sản xuất tiên tiến và một tầng lớp tổ chức sản xuất chuyên nghiệp là một hiện thực khách quan. Do đó, việc Đảng và Nhà nước ta tạo điều kiện cho doanh nhân phát triển chính là quá trình khai thác năng lực quản lý, công nghệ và vốn của họ để kiến tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật cho Xã hội Chủ nghĩa. Đây không phải là sự xa rời chủ nghĩa Mác, mà là sự tuân thủ nghiêm túc quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
2. Lý luận về Thời kỳ quá độ và Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ cho rằng có thể xóa bỏ ngay lập tức mọi thành phần kinh tế phi Xã hội Chủ nghĩa ngay sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền. Bản thân C. Mác trong Phê phán Cương lĩnh Gô-ta đã chỉ rõ sự tồn tại tất yếu của một thời kỳ cải biến cách mạng lâu dài giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa – đó là Thời kỳ quá độ.
Kế thừa tư tưởng đó, khi đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước Nga Xô-viết, V.I. Lênin đã dũng cảm từ bỏ mô hình “Chủ nghĩa cộng sản thời chiến” để thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) vào năm 1921. Lênin đưa ra luận điểm cốt lõi rằng phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chấp nhận sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước và tư bản tư nhân dưới sự kiểm soát của chính quyền vô sản. Người viết: “Không phải lo ngại rằng chủ nghĩa tư bản sẽ làm suy yếu chính quyền xô-viết... Miễn là chính quyền xô-viết vẫn nắm chắc trong tay các ngành kinh tế then chốt, huyết mạch của quốc gia” [2, tr. 231].
Việt Nam hiện nay đang vận dụng hoàn chỉnh mô hình này dưới tên gọi “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong mô hình này, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô, trong khi kinh tế tư nhân (lực lượng nòng cốt là các doanh nhân) là một động lực quan trọng. Việc tôn vinh doanh nhân hoàn toàn nằm trong quỹ đạo lý luận của Lênin về việc sử dụng ngọn lửa sáng tạo và tiềm lực của chủ nghĩa tư bản tư nhân để xây dựng tòa nhà xã hội chủ nghĩa.
3. Ba khác biệt bản chất giữa Giai cấp tư sản truyền thống và Doanh nhân Việt Nam hiện nay
Để đập tan các luận điệu giáo điều cho rằng tôn vinh doanh nhân là xa rời học thuyết Mác, chúng ta cần thực hiện một phép biện chứng đối chiếu sâu sắc trên ba phương diện cốt lõi: từ nguồn gốc hình thành tư bản, phương thức vận hành sản xuất cho đến cách thức phân phối thành quả kinh tế.
Thứ nhất, về xuất phát điểm và phương thức tích lũy ban đầu
Trong học thuyết kinh điển của Marx, sự hình thành giai cấp tư sản gắn liền với quá trình “tích lũy nguyên thủy” (tích lũy ban đầu) đầy bạo lực và tước đoạt. Marx đã khái quát bản chất của quá trình này trong tác phẩm Tư bản bằng một kết luận nổi tiếng: “Tư bản ra đời, từ đầu đến chân, mỗi lỗ chân lông đều giọt ra máu và chất bẩn” [3, tr. 342]. Nguồn gốc tài sản của giai cấp tư sản truyền thống đến từ việc tước đoạt ruộng đất của nông dân trong nước (như phong trào rào đất cướp ruộng ở Anh) và thông qua chiến tranh xâm lược, thực dân hóa, buôn bán nô lệ tại các nước thuộc địa.
Ngược lại, đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện nay có xuất phát điểm hoàn toàn đối lập. Họ hình thành và đi lên từ nền kinh tế thị trường đổi mới bằng phương thức tích lũy chân chính. Nguồn vốn và tài sản của doanh nhân Việt Nam được xây dựng dựa trên trí tuệ, sự nhạy bén với thời cuộc, năng lực quản trị tiên tiến, nguồn lao động tự thân và dòng vốn vay mướn hợp pháp. Họ không tước đoạt hay xâm lược ai, mà tự thân tạo ra các thực thể kinh tế mới, đóng góp năng lực nội sinh để làm giàu cho bản thân và cho đất nước khỏi nghèo nàn, lạc hậu.
Thứ hai, về quá trình tạo ra giá trị mới và thái độ đối với người lao động
Dưới góc nhìn của kinh tế chính trị Mác-xít cổ điển, mục đích độc tôn và tối thượng của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư (m) bằng mọi giá. Ở thế kỷ XIX, điều này đồng nghĩa với việc các nhà tư sản sẵn sàng tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động lên 14-16 tiếng, cưỡng bức lao động trẻ em trong môi trường tồi tệ và cắt giảm tối đa chi phí bảo hộ, an toàn lao động để tối ưu hóa lợi nhuận. Người lao động bị xem như một thứ “hàng hóa sống” bị vắt kiệt sức lao động.
Trong khi đó, doanh nhân Việt Nam hiện nay hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Quá trình tạo ra giá trị mới của doanh nhân Việt Nam bị ràng buộc và tự giác tuân thủ các nguyên tắc nhân văn: bảo đảm an toàn lao động, tôn trọng quyền con người và thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Doanh nhân Việt Nam phát triển dựa trên việc cải tiến công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh chứ không phải bằng cách hạ thấp các tiêu chuẩn sống hay tước đoạt quyền lợi của người lao động. Họ hướng đến sự phát triển bền vững, hài hòa, không chạy theo lợi nhuận mù quáng mà đánh đổi môi trường sinh thái hay sức khỏe con người.
Thứ ba, về phương thức phân phối và mục đích sử dụng giá trị thặng dư
Ở mô hình tư bản truyền thống, phần lớn giá trị thặng dư sau khi thu về sẽ biến thành tư sản tư hữu độc chiếm tuyệt đối của nhà tư sản. Thành quả lao động của xã hội bị thâu tóm để phục vụ cho lối sống xa hoa của giai cấp thống trị hoặc tiếp tục biến thành tư bản để quay vòng, mở rộng bộ máy xích xiềng bóc lột. Sự giàu có tích tụ về một cực tất yếu dẫn đến sự bần cùng hóa của giai cấp vô sản ở cực đối diện.
Tại Việt Nam, phương thức phân phối và sử dụng thành quả kinh tế của doanh nhân lại tuân thủ nguyên tắc hài hòa lợi ích theo tinh thần: “Lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”. Giá trị mới sau khi thu về được phân chia một cách khoa học: một phần mang lại lợi nhuận chính đáng cho cá nhân doanh nhân (khuyến khích làm giàu hợp pháp); một phần lớn được đóng góp vào ngân sách quốc gia thông qua nghĩa vụ thuế để Nhà nước tái phân phối, đầu tư cho hạ tầng, y tế, giáo dục công cộng phục vụ nhân dân; và một phần đáng kể được chính các doanh nhân chủ động quay lại phục vụ cộng đồng. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam luôn là lực lượng đi đầu trong các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, tài trợ giáo dục và đồng hành cùng dân tộc trong các giai đoạn khủng hoảng thiên tai, dịch bệnh. Lợi ích cá nhân của doanh nhân hòa quyện chặt chẽ và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, của dân tộc.
4. Chống giáo điều và kiên định tinh thần biện chứng Mác-xít
Chủ nghĩa Mác - Lênin mang bản chất là một học thuyết mở và mang tính cách mạng sâu sắc. Bản thân Ph. Ăngghen đã từng đưa ra lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những người hậu thế về cách tiếp cận lý luận của các ông: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và nhắc lại một cách máy móc” [4, tr. 621].
Nếu Việt Nam rập khuôn một cách máy móc những câu chữ trong bối cảnh lịch sử của thế kỷ XIX – tiến hành xóa bỏ ngay lập tức tư hữu và kỳ thị tầng lớp doanh nhân, nền kinh tế sẽ rơi vào khủng hoảng, trì trệ do triệt tiêu động lực sản xuất (như bài học kinh nghiệm từ thời kỳ trước Đổi mới năm 1986). Việc Đảng ta khẳng định doanh nhân là một bộ phận cấu thành của khối đại đoàn kết, tổ chức ngày tôn vinh Doanh nhân Việt Nam (13/10) chính là minh chứng cho thấy sự dũng cảm lý luận, rũ bỏ tư duy giáo điều để quay về với đúng tinh thần biện chứng cốt lõi của Mác: lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý. Tinh thần này hoàn toàn đồng nhất với Tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người viết thư gửi giới Công thương ngày 13/10/1945, khẳng định “nền kinh tế quốc dân thịnh vượng có sự đóng góp không thể tách rời của các nhà công thương chính tâm” [5, tr. 45].
Kết luận
Tóm lại, việc Việt Nam thừa nhận và tôn vinh tầng lớp doanh nhân không hề đi ngược lại lý thuyết của C. Mác, mà trái lại, đó là một bước phát triển lý luận sáng tạo, một sự trung thành tuyệt đối với tinh thần biện chứng duy vật. Sự so sánh toàn diện trên ba góc độ: nguồn gốc tích lũy ban đầu chân chính, quá trình tạo giá trị nhân văn và phương thức phân phối hài hòa xã hội đã cho thấy đội ngũ doanh nhân Việt Nam mang bản chất kinh tế - xã hội hoàn toàn mới. Họ không phải đối tượng bị xóa bỏ mang tính đối kháng giai cấp, mà là một lực lượng xung kích trên mặt trận kinh tế, đồng hành cùng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự định hướng của Nhà nước XÃ HỘI CHỦ NGHĨA để thực hiện mục tiêu tối thượng: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2] V.I. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 43, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-scơ-va.
[3] C. Mác (2002), Tư bản, Quyển I, Tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 36, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.